/
/

Chi tiết bài viết

11/05/2026

Vay tiền nhưng không trả có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Trong đời sống dân sự, quan hệ vay tài sản là một giao dịch phổ biến, tuy nhiên không ít trường hợp người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đặt ra câu hỏi liệu hành vi này chỉ dừng lại ở trách nhiệm dân sự hay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Quan hệ vay tài sản là một quan hệ dân sự điển hình, được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015. Theo quy định tại Điều 466, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ tài sản khi đến hạn, bao gồm tiền hoặc vật theo đúng số lượng, chất lượng đã thỏa thuận, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Như vậy, nghĩa vụ trả nợ đúng hạn là nghĩa vụ pháp lý cơ bản của bên vay trong quan hệ vay tài sản.

Tuy nhiên, trên thực tế, khi đến hạn thanh toán mà bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, cần phân biệt rõ hai trường hợp pháp lý khác nhau để xác định hướng xử lý phù hợp.

+ Trường hợp 1: Bên vay không trả nợ do không có khả năng chi trả và không có dấu hiệu bỏ trốn hay dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì đây sẽ là tranh chấp dân sự. Để đòi lại được tiền, bên vay có thể đến Tòa án dân sự để thực hiện thủ tục đòi tài sản.

+ Trường hợp 2: Nếu bên vay có thể nợ nhưng không trả mà cố gắng sử dụng thủ đoạn gian lừa hoặc bỏ trốn chiếm đoạt tài sản tài sản thì có thể được truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa chiếm đoạt tài sản tài sản.

Cụ thể, theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017, hành vi vay, mượn, thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác thông qua hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn nhằm chiếm đoạt, hoặc đến hạn trả mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, đều có thể bị xem xét xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, trường hợp người vay sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến mất khả năng thanh toán cũng là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về chế tài, pháp luật quy định khung hình phạt tương đối nghiêm khắc, phụ thuộc vào giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Cụ thể:

- Người thực hiện một trong các hành vi có thể bị xử phạt cải cách không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi:

+Tài sản giá trị từ 04 triệu đến dưới 50 triệu đồng;

+ Giá trị tài sản trị giá dưới 04 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm tài sản chính về hành vi chiếm tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội cướp tài sản, chiếm đoạt tiền tài sản sản, Bảo đảm tài sản tài sản… chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương pháp tiện lợi cho cuộc sống của người bị tổn hại và gia đình họ.

- Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt tăng nặng khác là:

+ Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi: Phạm tội có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Kiếm tiền tài sản giá trị từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; Sử dụng thủ đoạn trống; Tái phạm nguy hiểm…

+ Phạt tù từ 05 - 12 năm khi chiếm tài sản giá trị từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng.

+ Phạt tù từ 12 - 20 năm khi chiếm đoạt tài sản giá trị 500 triệu đồng trở lên.

- Bên cạnh đó, hình phạt bổ sung của tội này là phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng hoặc bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề từ 1 năm đến 5 năm. Tài sản của người phạm tội có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ.

Như vậy, vay tiền mà không trả sẽ được truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt tài sản tài sản, người phạm tội có thể bị phạt tù đến 20 năm, phạt đến 100 triệu.

Từ những quy định trên có thể thấy rằng, không phải mọi trường hợp vay tiền không trả đều bị xử lý hình sự, mà chỉ khi hành vi của người vay có dấu hiệu lợi dụng sự tin tưởng nhằm chiếm đoạt tài sản thì mới cấu thành tội phạm. Nói cách khác, yếu tố then chốt để phân định trách nhiệm hình sự nằm ở ý chí chủ quan của người vayhành vi khách quan thể hiện mục đích chiếm đoạt tài sản.

Do đó, trong thực tiễn, việc đánh giá một hành vi vay tiền không trả có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không cần được xem xét một cách toàn diện, khách quan, tránh tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự, đồng thời cũng không bỏ lọt những hành vi có dấu hiệu phạm tội.

Nếu bạn cần thêm thông tin hoặc tư vấn vui lòng liên hệ tới Công ty luật TNHH MTV An Trần Gia, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ bạn!