15/07/2026
Sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm theo quy định của pháp luật. Hành vi này không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng mà còn tác động tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội. Vậy người sử dụng trái phép chất ma túy có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Bài viết dưới đây sẽ làm rõ quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này.
1. Người sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu như thế nào?
Theo khoản 10 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy 2021, người sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.
Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 22 Luật Phòng, chống ma túy 2021 quy định về xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể được thực hiện đối với người thuộc trường hợp sau đây:
- Người bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;
- Người mà cơ quan, người có thẩm quyền có căn cứ cho rằng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;
- Người sử dụng trái phép chất ma túy đang trong thời hạn quản lý;
- Người đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đang cai nghiện ma túy; đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy.
Do đó, tùy theo tính chất, mức độ hành vi người sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Tội sử dụng trái phép chất ma túy phải chịu trách nhiệm trách nhiệm hình sự như thế nào?
Kể từ ngày 01/7/2025, Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã bổ sung Điều 256a quy định về “Tội sử dụng trái phép chất ma túy”. Cụ thể như sau:
Theo Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), người sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
Thứ nhất, đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế.
Theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, thời hạn cai nghiện ma túy (bao gồm cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cơ sở cai nghiện và cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi) được thực hiện từ 06 tháng đến 12 tháng.
Thứ hai, đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy.
Thời hạn quản lý sau cai nghiện được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 40 Luật Phòng, chống ma túy 2021, cụ thể như sau:
- Người đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, người đã hoàn thành điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 01 năm kể từ ngày hoàn thành việc cai nghiện hoặc chấp hành xong quyết định.
- Người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định.
Thứ ba, đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện và đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo khoản 2 Điều 23 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là 01 năm kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp xã ban hành quyết định quản lý.
Thứ tư, đang trong thời hạn 02 năm kể từ ngày tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế.
Đây là trường hợp người đang thực hiện cai nghiện hoặc điều trị nghiện nhưng tự ý chấm dứt quá trình này và tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn luật định.
Hình phạt đối với trường hợp tái phạm:
Người tái phạm “Tội sử dụng trái phép chất ma túy” có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm theo khoản 2 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
3. Người sử dụng trái phép chất ma túy không thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử lý như thế nào?
Đối với người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), hành vi này sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 30 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Cụ thể, người vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, đồng thời bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có).
Ngoài ra, tùy từng trường hợp, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp quản lý, giáo dục hoặc cai nghiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Bên cạnh việc bị xử phạt vi phạm hành chính, người sử dụng trái phép chất ma túy còn có thể bị quản lý tại nơi cư trú trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định quản lý theo quy định tại các Điều 23, 24 và 25 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Việc quản lý này nhằm theo dõi, giáo dục, hỗ trợ người vi phạm từ bỏ ma túy và phòng ngừa tái phạm. Trường hợp người đang thuộc diện quản lý thay đổi nơi cư trú thì Công an cấp xã nơi chuyển đi có trách nhiệm thông báo cho Công an cấp xã nơi chuyển đến để tiếp tục thực hiện việc quản lý theo quy định của pháp luật.
Nếu bạn cần thêm thông tin hoặc tư vấn vui lòng liên hệ tới Công ty luật TNHH MTV An Trần Gia, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ bạn!