02/04/2025
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, một trong những vấn đề pháp lý quan trọng là tính hiệu lực của văn bản thỏa thuận phân chia di sản khi không có sự tham gia của một hoặc một số đồng thừa kế. Vậy, văn bản này có giá trị pháp lý hay không? Hãy cùng tìm hiểu.
Theo quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận về việc phân chia di sản. Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản.
Bên cạnh đó, Điều 57 Luật Công chứng 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định về công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Theo đó, những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc (nếu di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng) có quyền yêu cầu công chứng văn bản này.
Như vậy, về nguyên tắc, việc phân chia di sản phải có sự tham gia của tất cả người đồng thừa kế hợp pháp, trừ trường hợp có người từ chối nhận di sản hoặc không có quyền hưởng thừa kế theo quy định.
Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu văn bản thỏa thuận phân chia di sản không có sự tham gia của một trong các đồng thừa kế mà không có căn cứ hợp pháp (như người đó chưa từ chối di sản hoặc không bị truất quyền thừa kế), văn bản này sẽ không thể có hiệu lực toàn bộ mà chỉ có giá trị ràng buộc đối với những người đã tham gia ký kết.
Ví dụ minh họa:
Gia đình ông A và bà B có 7 người con. Khi cả hai vợ chồng qua đời, di sản để lại là một căn nhà. Trong số 7 người con, chỉ có anh C và chị D tự thỏa thuận với nhau, lập văn bản phân chia di sản, trong đó anh C đồng ý tặng toàn bộ phần thừa kế của mình cho chị D. Sau đó, chị D dùng văn bản này để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên riêng mình, mà không có ý kiến của 5 người con còn lại. Một thời gian sau, một trong những người con khác là anh E phát hiện ra sự việc và khiếu nại, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chị D.
Nhận định của Tòa án: “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản chỉ có hiệu lực với phần di sản mà anh C và chị D được hưởng. Những người con khác không tham gia ký tên vào văn bản này thì phần thừa kế của họ không thể bị phân chia mà không có sự đồng ý của họ. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho chị D là chưa đầy đủ căn cứ pháp lý, vì chưa có sự đồng thuận của tất cả đồng thừa kế hợp pháp. Như vậy, Văn bản thỏa thuận chỉ có hiệu lực với phần di sản mà anh C đã đồng ý tặng cho chị D. Phần còn lại thuộc về 5 người con khác vẫn giữ nguyên theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Điều này cũng có nghĩa là nếu một số đồng thừa kế bị bỏ sót trong quá trình thỏa thuận mà họ không đồng ý sau đó, họ có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố văn bản thỏa thuận phân chia di sản vô hiệu một phần hoặc yêu cầu phân chia lại di sản theo pháp luật.
Việc thiếu sự tham gia của một hoặc một số đồng thừa kế trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng như:
Để tránh rủi ro pháp lý, khi lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản, cần:
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản khi thiếu sự thỏa thuận của một trong các đồng thừa kế không bị vô hiệu toàn bộ, nhưng chỉ có giá trị ràng buộc đối với những người đã tham gia ký kết. Điều này có thể dẫn đến tranh chấp và hậu quả pháp lý không mong muốn. Vì vậy, để đảm bảo tính chặt chẽ và hợp pháp, các bên liên quan cần thận trọng khi lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản, đồng thời nên tham vấn ý kiến của luật sư chuyên môn để tránh rủi ro pháp lý.
Nếu bạn cần hỗ trợ pháp lý trong vấn đề liên quan đến thừa kế, vui lòng liên hệ với chúng tôi - Công ty Luật An Trần Gia để được tư vấn chi tiết!